*
* *
Thay trời hành hóa, Hoàng thượng truyền rằng:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo,
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đă lâu,
Núi sông bờ cơi đă chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác,
Từ Triệu, Đinh, Lư, Trần bao đời gây nền độc
lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng
cứ một phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời nào cũng có.
Vậy nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại,
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mă
Việc xưa xem xét
Chứng cớ c̣n ghi
Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,
Để trong nước ḷng dân oán hận
Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa
Bọn gian tà c̣n bán nước cầu vinh.
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Dối trời, lừa dân, đủ muôn ngh́n kế,
Gây binh kết oán, trải hai mươi năm.
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khóa, sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển ḍng lưng ṃ ngọc,
ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đăi cát t́m vàng, khốn nỗi
rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt ḍ chim sả, chốn chốn lưới
chăng
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm
đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no
nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch
cho vừa.
Nặng nề những nỗi phu phen.
Tan tác cả nghề canh cửi
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa hết
mùi!
Lẽ nào trời đất dung tha
Ai bảo thần dân chịu được?
Ta đây:
Núi Lam Sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dă nương ḿnh
Ngẫm thù lớn há đội trời chung,
Căm giặc nước thề không cùng sống.
Đau ḷng nhức óc, chốc đà mười mấy năm
trời,
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối,
Quên ăn v́ giận, sách lược thao suy xét đă tinh
Ngẫm trước đến nay; lẽ hưng phế đắn đo càng
kĩ.
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên
Chính lúc quân thù đang mạnh.
Lại ngặt v́:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc.
Tấm ḷng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến
về đông
Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm c̣n dành phía
tả
Thế mà:
Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như
nh́n chốn bể khơi.
Tự ta, ta phải dốc ḷng, vội vă hơn cứu
người chết đuối
Phần v́ giận quân thù ngang dọc
Phần v́ lo vận nước khó khăn
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần
Khi Khôi Huyện quân không một đội
Trời thử ḷng trao cho mệnh lớn
Ta gắng trí khắc phục gian nan;
Nhân dân bốn cơi một nhà, dựng cần trúc ngọn
cờ phấp phới
Tướng sĩ một ḷng phụ tử, ḥa nước sông
chén rượu ngọt ngào.
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều
Trọn hay:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy chí nhân để thay cường bạo
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay
Sĩ khí đă hăng
Quân thanh càng mạnh
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lư An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân
Thừa thắng ruổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm
Tụy Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm
Phúc tâm quân giặc: Trần Hiệp đă phải bêu
đầu
Mọt gian kẻ thù: Lư Lượng cũng đành bỏ mạng
Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại
càng cháy
Mă Anh, cứu trận đánh, mà quân ta hăng lại
càng hăng
Bó tay để đợi bại vong, giặc đă trí cùng
lực kiệt
Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu
phạt tâm công
Tưởng chúng biết lẽ ăn năn, nên đă thay ḷng
đổi dạ
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính, lại c̣n chuốc
tội gây oan
Giữ ư kiến một người, gieo vạ cho bao kẻ khác,
Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế
gian.
Bởi thế:
Thằng nhăi con Tuyên Đức động binh không ngừng,
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
Đinh Mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu
Ôn kéo lại,
Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ
Vân Nam tiến sang,
Ta trước đă điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên
phong,
Ta lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương
thực,
Ngày mười tám: trận Chi Lăng Liễu Thăng thất
thế,
Ngày hai mươi: trận Mă Yên Liễu Thăng cụt đầu.
Ngày hăm lăm: bá tước Lương Minh đại bại tử
vong,
Ngày hăm tám: thượng thư Lư Khánh cùng kế
tự vẫn
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá,
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau.
Lại thêm quân bốn mặt vây thành,
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc.
Sĩ tốt kén tay hùng hổ,
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh.
Gươm mài đá, đá núi cũng ṃn
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận, sạch không ḱnh ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê cũ
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chết đầy đường
Xương Giang, B́nh Than, máu trôi đỏ nước
Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi
Thảm đạm thay! ánh nhật nguyệt phải mờ.
Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam hồ đồ sợ
bóng mà vỡ mật
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo
lên nhau chạy để thoát thân.
Suối Lănh Câu, máu chảy trôi chày nước sông
nghẹn ngào tiếng khóc.
Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm
đ́a máu đen,
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra
hàng,
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi
xin cứu mạng,
Thần Vũ chẳng giết hại, thể ḷng trời ta mở
đường hiếu sinh,
Mă Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc
thuyền ra đến bể mà vẫn hồn bay phách lạc
Vương Thông, Mă Anh, phát cho vài ngh́n cổ ngựa,
về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đă tham sống sợ chết mà ḥa hiếu thực
ḷng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức
Chẳng những mưu kế ḱ diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay
Xă tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ mà lại thái
Nhật nguyệt hối mà lại minh
Muôn thuở nền thái b́nh vững chắc
Ngàn năm, vết nhục nhă sạch làu
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng
ngầm giúp đỡ, mới được như vậy.
Than ôi!
Một cỗ nhung y chiến thắng, nên công oanh liệt
ngàn năm
Bốn phương biển cả thanh b́nh, ban chiếu duy tân
khắp chốn.
Xa gần bá cáo
Ai nấy đều hay.
(Nguyên
văn bằng chữ Hán,
bản dịch
của Bùi Văn Nguyên
dựa theo bản
dịch của Bùi Kỉ)